Chặng 2 · Bài 3/7

Thứ người khác khó thay thế mình

Kỹ năng nào học được ở trường lớp thì người khác cũng học được, và người thuê mình luôn có lựa chọn khác. Vậy điều gì khiến người ta khó tìm được ai thay thế mình, và làm sao để chúng ta nhận ra nó khi không có ai chỉ cho?

Đã đăng 06/11/2026Cập nhật 06/11/20269 phút đọc · 8 phần
Buổi tối trong một căn nhà: người mẹ đứng bên bếp khuấy nồi, hơi nóng bốc lên nhè nhẹ; ở bàn ăn, một cậu thiếu niên giơ tay say sưa kể với bạn bên cuốn sách vẽ các vì sao.

Câu nói vọng ra từ trong bếp

Năm mười lăm, mười sáu tuổi, Naval Ravikant ngồi kể với một người bạn rằng sau này cậu sẽ làm nhà vật lý thiên văn. Mẹ ông đang ở trong bếp, nói vọng ra một câu: "Không, con sẽ làm kinh doanh."

Cậu con trai nghĩ mẹ chẳng hiểu gì. Nhưng bà hiểu rất rõ. Bà đã để ý từ lâu: mỗi lần hai mẹ con đi ngang một tiệm pizza, cậu lại bình luận vì sao tiệm ấy bán từng lát theo kiểu này, chọn những loại nhân kia, vì sao cách gọi món như thế là chưa hợp lý, đáng ra phải làm khác đi. Không ai bắt cậu nghĩ về chuyện bán pizza. Cậu cứ tự nghĩ.

Trước một tiệm pizza nhỏ trên góc phố, người mẹ tay xách túi vải, tay nắm tay cậu con trai nhỏ. Cậu bé tò mò chỉ vào ô kính bày mấy chiếc bánh pizza.

Mấy chục năm sau, Naval thành nhà đầu tư ở Thung lũng Silicon và đồng sáng lập AngelList. Khi kể lại chuyện này trong loạt podcast giải thích chuỗi tweet "How to Get Rich", ông nói người đầu tiên chỉ ra đúng thứ ông giỏi lại chính là mẹ mình.

Ở bài trước, mình đã viết rằng muốn thu nhập không còn phụ thuộc vào số giờ làm việc thì cần sở hữu và cần đòn bẩy. Nhưng đòn bẩy chỉ nhân lên thứ mình đang có. Nếu thứ mình làm ai cũng làm được thì nhân lên bao nhiêu lần, người ta cũng có thể tìm một người khác rẻ hơn.

Mình cũng đã hẹn sẽ nói kỹ về thứ Naval gọi là kiến thức mà trường lớp không dạy được. Bài này mình viết tiếp về chuyện đó: thứ khiến người khác khó thay thế mình là gì, và làm sao tìm ra nó, nhất là khi mình thấy bản thân chẳng có gì đặc biệt.

Thứ học được ở trường thì người khác cũng học được

Naval gọi thứ này là specific knowledge, tạm dịch là kiến thức đặc thù. Theo ông, đó là thứ không ai đào tạo được cho mình.

Nếu một lớp học dạy được mình một kỹ năng, thì lớp học ấy cũng dạy được hàng nghìn người khác. Khi đó người thuê mình luôn có lựa chọn khác, và tiền công của mình sẽ dần giảm về quanh mức chi phí để đào tạo ra một người như mình, cộng thêm một chút lãi cho khoản đầu tư vào việc học ấy.

Ông còn cho rằng thứ gì dạy được thành giáo trình thì sớm muộn cũng có thể viết thành chương trình cho máy làm.

Nghe vậy dễ tưởng Naval coi thường trường lớp, nhưng không phải. Ông nói rõ là chúng ta vẫn cần học hành, vẫn cần được đào tạo bài bản để tận dụng được thứ kiến thức đặc thù của mình. Chỉ là phần được trả thêm, phần khiến người ta chọn mình mà không chọn người khác, thì không nằm ở tấm bằng.

Ông lấy ví dụ một người học tâm lý rồi đi làm bán hàng. Nếu người ấy vốn đã là người bán hàng rất giỏi từ trước, tấm bằng tâm lý sẽ giúp họ giỏi hơn nữa, vì họ hiểu khách hàng sâu hơn.

Còn nếu người ấy vốn hướng nội, chưa bao giờ thích bán hàng, rồi học tâm lý với hy vọng thành người bán giỏi, thì Naval nói họ khó mà đi xa được. Tức là tấm bằng giúp người vốn đã giỏi một việc làm việc ấy tốt hơn, chứ không biến một người không hợp với việc ấy thành người giỏi.

Một chiếc bàn làm việc bằng gỗ với hàng dụng cụ xếp ngay ngắn: búa, tua vít, cưa nhỏ, thước dây. Nằm giữa hàng dụng cụ là một tấm bằng cuộn tròn buộc nơ đỏ, như thêm một món đồ nghề.

Cũng vì vậy mà ông khuyên đừng chọn học ngành đang hot hay lao vào lĩnh vực mà các nhà đầu tư đang bàn tán nhiều nhất. Ngành càng đông người đổ vào thì người thuê mình càng dễ tìm được người thay thế.

Tiến sĩ Alan Phan, một doanh nhân gốc Việt có tới bốn tấm bằng từ cử nhân đến tiến sĩ, từng viết một ý rất gần với Naval. Khi bàn về người lãnh đạo doanh nghiệp, ông nói kiến thức không phải là bằng cấp kiếm được từ trường lớp hay mua ngoài chợ, mà là một dòng suy nghĩ và phân tích được bổ sung mỗi ngày.

Còn kinh nghiệm là những gì có được từ chiến trường thật, thắng hay thua đều bằng sức của chính mình và những người làm cùng.

Những việc mình làm mà không thấy mệt

Vậy kiến thức đặc thù đến từ đâu? Theo Naval, nó đến từ sự tò mò thật sự, từ năng khiếu sẵn có và những thứ mình say mê. Ông nói việc xây dựng kiến thức đặc thù thì với mình giống như chơi, nhưng với người khác lại trông như làm việc.

Chính Naval cũng phải mất nhiều năm mới nhận ra thứ của mình. Hồi trẻ, ông coi các nhà khoa học là những người đứng trên đỉnh, nên muốn trở thành một nhà khoa học giỏi. Nhưng khi nhìn lại xem bản thân thật sự giỏi gì và thật sự dành thời gian cho việc gì, ông thấy câu trả lời khác hẳn: kiếm tiền, mày mò công nghệ, thuyết phục người khác tin vào một ý tưởng, giải thích mọi thứ cho người khác hiểu.

Ông có thể ngồi rất lâu với một đống dữ liệu, mê mải với nó rồi phân tích từng phần một. Với ông, những việc ấy là chơi. Với nhiều người khác, chỉ nghĩ đến thôi đã thấy mệt.

Đêm khuya, một người đàn ông ngồi bên bàn gỗ, mỉm cười say sưa tháo một chiếc radio cũ bằng chiếc tua vít nhỏ, linh kiện xếp gọn bên cạnh tách trà. Ngoài cửa sổ là vầng trăng khuyết.

Ông còn nói sau tuổi hai mươi, hai mươi hai, chúng ta gần như không còn được chọn mình có kiến thức đặc thù nào nữa. Việc mình làm được là nhìn lại những gì mình đã tích lũy đến lúc ấy, rồi xây tiếp lên trên.

Kiến thức đặc thù ít khi đến từ một buổi ngồi suy luận xem mình nên giỏi gì. Nó thường được nhận ra qua quan sát, và nhiều khi người quan sát ra lại là người khác, như mẹ ông trong căn bếp năm ấy.

Nên nếu muốn tìm thứ của mình, câu hỏi đầu tiên không phải là "ngành nào đang trả lương cao". Câu hỏi đáng hỏi hơn là: có việc gì mình vẫn làm dù không ai bắt, làm xong không thấy kiệt sức, mà người khác nhìn vào lại thấy ngại?

Người học kinh tế không định làm nghề viết

Con đường của Morgan Housel, tác giả cuốn Tâm lý học về tiền, cho thấy khá rõ điều này.

Hồi đại học, Housel học kinh tế, và ông kể rằng học ngành ấy nghĩa là gần như chẳng phải viết gì. Ông mê đầu tư từ sớm và biết mình muốn làm nghề liên quan đến đầu tư. Ông thử làm ở ngân hàng đầu tư, nhưng nhịp làm việc liên tục cả ngày lẫn đêm và các quy trình cứng nhắc ở đó khiến ông thấy không hợp.

Ông tự nhận là người thích có thời gian để nghĩ cho kỹ. Sau đó ông chuyển sang một quỹ đầu tư tư nhân và thấy thích công việc ấy, nhưng đó là mùa hè năm 2007. Thị trường tín dụng bắt đầu đóng băng, những quỹ kiểu ấy gặp khó khăn, và ông phải tìm việc khác.

Một người bạn đang viết cho trang Motley Fool rủ ông thử. Housel kể ông chưa bao giờ nghĩ mình sẽ thành người viết.

Ông nộp đơn với hai suy nghĩ: một là họ sẽ không nhận, hai là nếu có nhận thì làm sáu tháng rồi lại tìm việc ở một quỹ đầu tư khác. Cuối cùng ông ở lại chín năm và viết khoảng 3.500 bài. Ông kể là mình đã mê công việc viết về đầu tư.

Một người đàn ông ngồi gõ máy tính bên cửa sổ nhìn ra những dãy nhà phố. Cạnh bàn là một chồng giấy cao gần bằng mặt bàn và một chồng thấp hơn, như những bài viết tích lại qua nhiều năm.
Housel viết cho Motley Fool chín năm, khoảng 3.500 bài.

Housel không cần là người hiểu tài chính giỏi nhất, cũng không cần là người viết hay nhất. Nhưng ông là một người hiểu đầu tư, thích nghĩ chậm, và viết được về tiền theo cách người không học tài chính vẫn đọc được.

Ghép ba thứ ấy lại thì số người làm được như ông ít hơn rất nhiều. Và thứ ông giỏi lại chính là thứ đã khiến ông thấy lạc lõng ở ngân hàng đầu tư: cái tật thích nghĩ cho kỹ, không chịu chạy theo tốc độ.

Không cần giỏi nhất, chỉ cần ít ai có đủ như mình

Naval có một cách giải thích cho chuyện này. Ông nói nếu tính từng lĩnh vực riêng lẻ, chỗ số một nào cũng đã có người ngồi. Trừ khi mình là người say mê một lĩnh vực nhất thế giới, còn không thì khó mà giành được chỗ ấy.

Nhưng thử nghĩ tới một người chỉ đứng thứ 3.728 trong một lĩnh vực nào đó, lại bán hàng rất giỏi, viết tốt, và hiểu kế toán, tài chính kỹ. Khi có một việc cần đúng tất cả những thứ ấy cùng lúc, số người có thể làm được còn lại rất ít.

Naval nói lọt vào nhóm 5% giỏi nhất ở ba, bốn thứ dễ hơn nhiều so với việc đứng số một ở một thứ. Vì vậy, thứ khó thay thế thường là một cách kết hợp mà ít ai có đủ, hơn là một kỹ năng xuất sắc.

Sơ đồ vẽ tay ba vòng tròn: Bán hàng giỏi, Viết dễ hiểu, Hiểu tài chính. Ba vòng tròn ở xa nhau rồi trượt lại chồng lên nhau, chỗ giao của cả ba sáng lên một ngôi sao nhỏ với dòng chữ: ít ai có đủ cả ba.
Không cần giỏi nhất ở thứ nào. Chỗ giao của vài thứ khá tốt mới là nơi ít người đứng.

Nhìn lại con đường của chính mình, mình thấy nó cũng gần như vậy. Hồi lớp 12, mình mò mẫm làm một diễn đàn cho lớp và một trang web nghe nhạc. Mình không biết lập trình, chủ yếu tìm hướng dẫn rồi làm theo, và đến giờ vẫn vậy. Ra trường, mình quay lại làm những thứ online hồi cấp ba hay mày mò, đúng lúc bán hàng online và quảng cáo Facebook mới bắt đầu.

Có một giai đoạn mình kết hợp với những người có nguồn hàng, chia lợi nhuận 50:50, mình phụ trách xây dựng kênh online để bán hàng. Nói chung việc gì dùng được kỹ năng marketing mà không phải ôm hàng, không phải bỏ nhiều vốn thì mình làm.

Bây giờ, phần mềm quản lý cho quán Music Box mình góp vốn ở Nha Trang, website này và những dự án khác cũng là mình đồng hành cùng AI Agent làm, theo đúng kiểu tìm cách rồi làm theo như hồi lớp 12. Và mình vẫn đọc sách nên khả năng viết cũng tăng dần lên, dù ngày xưa mình học Văn rất kém vì chuyên về các môn tự nhiên.

Người có nguồn hàng thì nhiều. Người chạy được quảng cáo cũng không ít. Nhưng người vừa làm được kênh bán hàng, vừa tự mày mò dựng được trang web và công cụ mình cần mà không phải thuê ai, thì ít hơn hẳn.

Tất cả những thứ ấy mình đều tự học, không qua lớp nào, cũng không có tấm bằng nào cho chúng. Kể cả tài sản mã hóa, tài chính hay AI bây giờ cũng vậy.

Không có ai nói vọng ra từ trong bếp thì sao

Naval may mắn có một người mẹ nhìn ra con mình từ năm mười lăm tuổi. Phần lớn chúng ta không có câu nói vọng ra ấy.

Cũng có người nhận được một câu như thế từ thầy cô. Trên VnExpress, một độc giả kể suốt mấy năm cấp hai chỉ được 5-6 điểm Văn, bài thường bị cô nhận xét là lạc đề, lủng củng. Năm lớp 9, trong một bài kiểm tra, người ấy bỏ hết khuôn mẫu đã học và viết về một người bạn thời thơ ấu đã chuyển trường.

Bài được 7 điểm rưỡi, điểm cao nhất từ trước tới giờ, kèm lời phê của cô giáo: "Bài viết có cảm xúc. Hãy viết nhiều hơn bằng chính trải nghiệm của em." Hơn mười năm sau, người ấy làm nghề viết tự do, từ bài SEO, nội dung quảng cáo đến kịch bản video. Theo lời kể, người ấy không có năng khiếu văn chương từ nhỏ, chỉ là chưa bao giờ ngừng viết.

Mình thì không có ai nói như thế. Mình tự tìm hiểu, tự thử qua sách báo, nghe cả những bài hát hay, truyền cảm hứng.

Mình cứ làm thử, đọc sách, đọc các cuốn tự truyện, xem các tấm gương, rồi thấy những người mình từng nghĩ là giỏi sẵn đều đã trải qua những lần cố gắng, thử và thất bại. Dần dần mình mới biết cái gì hợp với mình và đâu là lợi thế của mình.

Một người đàn ông ngồi xếp bằng trên tấm nệm, đeo tai nghe, đọc một cuốn sách, vài nốt nhạc nhỏ lơ lửng quanh đầu. Bên cạnh là kệ gỗ thấp và mấy chồng sách.

Nghĩ lại thì cách ấy cũng không khác điều Naval nói là bao. Ông nói kiến thức đặc thù được nhận ra qua quan sát. Mẹ ông quan sát hộ ông. Còn khi không có ai quan sát hộ, mình phải tự thử thật nhiều để có cái mà quan sát: thử một việc, xem mình có muốn làm tiếp không, thất bại thì xem mình thất bại vì không hợp hay chỉ vì chưa đủ quen.

Housel cũng vậy. Ông không ngồi suy luận ra rằng mình hợp với nghề viết. Ông thử vì một người bạn rủ, định làm sáu tháng, rồi nhận ra ông không muốn dừng.

Những chỗ cách nghĩ này dễ làm mình hiểu sai

Chính Naval cũng cảnh báo đừng ghép kỹ năng một cách quá chủ đích. Nếu mình chỉ nhìn vào tiền rồi tính xem nên học thêm thứ gì cho đủ bộ, mình dễ chọn những thứ mình không thật sự thích.

Mà không thích thì sẽ không đi đủ sâu, và cái ghép ấy cũng chẳng hiếm hơn ai. Ông khuyên đi theo thứ mình thật sự mê trước, rồi để ý xem ở đâu có người cần đến nó.

Kiến thức đặc thù cũng cần nhiều năm. Housel ở lại chín năm với khoảng 3.500 bài viết. Mình mày mò làm web từ hồi lớp 12. Nó thường được học qua chính công việc, qua học việc bên cạnh người giỏi hơn, hoặc tự học, chứ hiếm khi qua một khóa học vài tuần.

Naval kể khi Warren Buffett ra trường, ông xin làm không lương cho Benjamin Graham, người đặt nền móng cho trường phái đầu tư giá trị. Graham trả lời rằng ngay cả làm miễn phí thì Buffett vẫn còn đắt. Naval nói Graham đúng: với một cơ hội học việc giá trị như thế, đáng ra Buffett phải là người trả tiền.

Khó thay thế cũng không có nghĩa là không bao giờ bị thay thế. Những thứ hôm nay hiếm có thể vài năm nữa thành phổ biến, nhất là khi AI đang làm thay được ngày càng nhiều việc. Chuyện này lớn đến mức mình để dành cho bài ngay sau.

Tự học cũng không có nghĩa là trường lớp vô ích. Như Naval nói, học hành bài bản vẫn là công cụ giúp mình đi xa hơn với thứ mình vốn có. Chỉ là đừng chờ một tấm bằng nói cho mình biết mình giỏi gì.

Một bài tập nhỏ trong 15 phút

Bạn chỉ cần một tờ giấy và cây bút.

  • Bước 1: Viết ra 5 việc người khác hay nhờ hoặc hay hỏi mình. Một người bạn hay nhờ sửa máy tính, đồng nghiệp hay hỏi cách viết email cho khéo, người nhà hay hỏi nên mua món đồ nào. Những việc người ta tự tìm đến mình thường là dấu hiệu đầu tiên.
  • Bước 2: Đánh dấu việc nào mình làm mà không thấy mệt. Việc mình vẫn tự tìm hiểu dù không ai bắt, như Naval hồi bé đi ngang tiệm pizza.
  • Bước 3: Hỏi hai người quen một câu: "Theo bạn, mình làm tốt việc gì mà chính mình không để ý?" Nếu chưa ai trả lời được, nhìn lại những việc mình từng thử, kể cả những lần không thành, và ghi ra lần nào mình thấy hợp nhất.
  • Bước 4: Ghép 2-3 thứ từ ba bước trên thành một câu: "Mình là người hiếm có cả ___, ___ và ___." Không cần mỗi thứ phải giỏi nhất, chỉ cần ít ai có đủ cùng lúc.
  • Bước 5: Chọn một lần thử nhỏ trong tháng này để dùng đúng cách ghép ấy cho một người thật: giúp một người bạn, nhận một việc nhỏ, viết một bài hướng dẫn. Làm xong, ghi lại mình có muốn làm thêm lần nữa không.

Không có đáp án đúng cho bài tập này. Có người viết xong vẫn thấy câu ở bước 4 còn mờ, và điều đó bình thường. Nhiều khi câu ấy chỉ rõ dần sau rất nhiều lần thử.

Mẹ Naval chỉ cần một câu nói vọng ra từ trong bếp. Phần lớn chúng ta thì phải tự nghe thấy câu ấy, qua sách, qua những người đi trước, và qua chính những lần mình làm thử rồi thất bại.

Thứ khiến người khác khó thay thế mình hiếm khi nằm trên một tấm bằng. Nó thường nằm trong những việc mình vẫn làm khi không ai bắt, và chỉ rõ ra sau nhiều lần thử.

Câu hỏi thường gặp

Kiến thức đặc thù mà Naval nói là gì?

Đó là thứ không ai đào tạo được cho mình. Theo Naval, kỹ năng nào lớp học dạy được thì cũng dạy được cho hàng nghìn người khác, nên tiền công sẽ dần giảm về quanh chi phí đào tạo. Kiến thức đặc thù thường đến từ sự tò mò, năng khiếu và những thứ mình say mê.

Có tấm bằng rồi thì có còn cần kiến thức đặc thù không?

Vẫn cần. Naval nói học hành bài bản giúp mình đi xa hơn với thứ mình vốn có, nhưng phần được trả thêm không nằm ở tấm bằng. Ông lấy ví dụ người học tâm lý đi bán hàng: tấm bằng giúp người vốn bán giỏi giỏi hơn, không biến người không hợp thành người giỏi.

Không giỏi nhất ở việc gì thì làm sao khó bị thay thế?

Theo Naval, lọt vào nhóm 5% giỏi nhất ở ba, bốn thứ dễ hơn nhiều so với đứng số một ở một thứ. Việc cần đủ những thứ ấy cùng lúc thì còn rất ít người làm được. Morgan Housel là ví dụ: hiểu đầu tư, thích nghĩ chậm, viết về tiền cho người không học tài chính vẫn hiểu.

Làm sao tìm ra thứ mình khó bị thay thế khi không ai chỉ cho mình?

Bài gợi ý tự thử thật nhiều để có cái mà quan sát: ghi lại những việc người khác hay nhờ mình, việc nào mình làm mà không thấy mệt, hỏi hai người quen mình giỏi gì mà chính mình không để ý, rồi ghép hai, ba thứ ấy và thử dùng cho một người thật trong tháng này.